Quán nhỏ và những bài học lớn!

adsc01149 (1)

…Bạn hỏi “Mày tốt nghiệp Master nước quài rồi mày đi bán bánh mì thiệt hả?”

Thế là từ đó, tui nhận ra phải tìm từ khác để chỉ mối quan hệ của tụi mình, vì một người “bạn”, ắt phải hiểu tui (chút đỉnh cũng được), đủ biết cái điên của tui, đủ hiểu sự đời sống có một lần, và đủ để hong hỏi câu này. Bằng Master đối với tui chỉ là một tờ giấy đẹp đẹp ghi lại những cố gắng cật lực 2 năm trời qua của mình, để ghi nhớ, để nhắc nhở, để khuyến khích mình lại hoàn thành được thêm một trong hai mươi điều đáng làm trong đời. Mình chưa bao giờ nhìn người khác bằng bằng cấp, tiền bạc, hay quần áo sang trọng, kim cương hột xoàn, tỉ lệ đi bar, hình du lịch thế giới trên Facebook… và mình cảm thấy buồn cười khi người ta đo mình như thế. Thiệt đời hẹp vậy sao cưng?

Tháng 12.2013, tui tốt nghiệp Master. Nhớ những ngày đầu tiên sắp bay, mẹ tui lo tui không đủ sức khỏe để học, để chòi đạp ở một xứ sở quá lạ lẫm quá lạnh lùng :)) Tui đã quyết tâm thì phải làm được. Tui muốn đi học ngoài cái ao làng nhiều người lớn tiếng. Tui muốn đi coi thế giới xài tiền nhiều vậy mà sao vẫn giàu. Tui muốn biết người ta dạy trẻ con làm sao mà chúng nó mạnh mẽ và tự lập, ý thức đến vậy?! Tui muốn biết nhiều thứ lắm, chứ không phải chỉ là đi học, xách mông lên giảng đường, hay phát triển tiếng Anh (thứ ngôn ngữ tui có nói cả đời cũng ko cảm nổi). Thế đấy. 2 năm sau tui hoàn thành một phần ước mong, có thêm rất nhiều bạn bè trong và ngoài cộng đồng, phần nhờ chân đi, phần nhờ bài project dọc đảo Bắc New Zealand (khảo sát và so sánh chất lượng giáo dục). Ai cũng đinh ninh là tui xong sẽ về Việt Nam, làm thầy bà gì đó theo cái “con đường sư phạm” với vài lời mời giảng dạy, hoặc tiếp tục nghiên cứu PhD vì quá nhiều sự khuyến khích và feedback xây dựng cho đề tài Master.

Vậy mà ngày 31.1.2014, tui và đồng đội ung dung trong một quán nhỏ, đi bán đồ ăn đường phố và văn hóa Việt Nam, tại Palmy.

Hai tháng cho tất cả mọi việc là một nỗ lực khủng khiếp của cả đội, để tìm nguồn funding, tìm hiểu luật pháp sở tại và khu vực, đi học những bằng cấp quy định, thiết kế quán từ nội thất đến từng chi tiết nhỏ sao cho hiệu quả và tiết kiệm nhất, là những ngày mở máy tính chầu chực trên Trade Me để tìm hàng tốt và giá hợp lý, là những ngày chạy xe mấy trăm cây số để đi xem từng chiếc xe, cái bếp, từng đồ lắp cống hay mặt bàn cho phù hợp luật lệ, là những ngày thuyết phục gia đình vì hai chữ “sĩ diện” của người Việt còn lớn lắm, là những buổi ăn một món liên tục để cải tiến công thức nấu ăn và tìm ra cách làm chuẩn, là bao lần đi lên xuống Council (Ủy ban) như đi chợ, là những buổi cả team  Tây có Ta có cãi nhau đến xanh tím mặt mày vì khác biệt văn hóa, là những lần quẹt thẻ mà tim xót xa vì từng xu dành dụm cuối cùng của mình đã bay đi hết, là những ngày làm việc 20 tiếng xong ra thấy tủ lạnh trống hoác, túi trống không và không còn gì để ăn để nuôi ước mơ của mình, là một sự chấp nhận khi đẩy lùi tiến trình publish bài đề án để dành thời gian cho project này, là những đêm nằm vắt tay lên trán suy nghĩ trước sau về lời mời hấp dẫn về Việt Nam làm việc an nhàn hay tiếp tục cày bừa ước mơ của mình, là nùi nùi giấy nháp brainstorm của cả đội, là những buổi Bạn Một hì hụi đóng tủ ghế bàn bếp lửa, Bạn Hai chạy bộ xa xa coi trước sau thiết kế, Bạn Ba đen thui bận rộn điện thoại reng suốt ngày vì liên lạc khách hàng, supplier,…

Tất cả kể ra trên chỉ là một phần thôi.

Hai tháng đó tui làm việc như điên, để kịp mùa hè còn rực rỡ. Chúng tui đã chuyển dự án “Quán nhỏ cố định” thành “Xe nhỏ đi rong” vì nghĩ rằng cả thành phố này chưa có một hàng Việt Nam nào, rõ là quá mới mẻ, dân Kiwi không phải như người ta nói, mở lòng ngay mà thử như kiểu người Việt ùn ùn thử quán mới, thử McDonald, họ phải đi tới lui, thấy nhiều, săm soi kỹ, rồi mới bỏ tiền ra thưởng thức. Nếu là quán cố định, mọi chi phí đội lên gấp 5 lần, cộng với việc kinh doanh lỡ không thành, thì mình cũng ko có bán lại được, vì có phải là của mình đâu. Thế nên xe nhỏ là comfortable entry, cũng là comfortable exit. Mùa hè với hàng trăm sự kiện diễn ra tưng bừng khu vực Manawatu, có xe, tui có thể chạy đến tận chỗ ngàn người đó mà tìm khách hàng, hơn là đợi họ tìm đến mình khi mình còn quá mới. Một cái quán dễ thương, sẽ thành công hơn khi họ đã biết mình là ai. Thế là cả đội tự hứa với nhau kiểu gì cũng phải cố gắng. Cái gì bắt đầu mà không gian nan, quan trọng là đã có được một bắt đầu…
.

Quán nhỏ, nhưng tui đã học được những bài học rất lớn. Từ quản lý thời gian, giao tiếp con người, tinh thần đồng đội, sự kiên nhẫn, chấp nhận sự khác biệt văn hóa, chia sẻ, trung thực, và tin tưởng nhau… Một tháng đi bán khắp nơi, tui gặp nhiều dạng người hơn cả hai năm qua ở New Zealand. Rất nhiều câu chuyện tui note lại để dành, có khi sau này lại thành sách ;)

Tui đã gặp những cựu binh NZ từng chiến đấu tại Việt Nam, họ không chỉ ghé mua đồ ăn Việt, mà chia cho tui câu chuyện ngày xưa, từ những năm sáu tám, và cơn ám ảnh của họ về đồng đội đã ngã xuống một cách vô ích tại chiến trường đó. Có người dám quay lại để thăm, có người tránh ánh mắt tui mà thở dài rằng họ còn nguyên nỗi sợ nên không dám ghé Việt Nam dù đi du lịch Châu Á.

Có anh Việt kiều 30 năm về VN lần nào cũng phải ăn bánh mì, ảnh mà ghé Palmy công tác là ghé quán nhỏ “Banh-mi đi em”, ảnh nói bộ dòm anh giống Việt Kiều heng, về tới phi trường là bị xin tiền, đi ăn cũng bị xin tiền ảnh hong biết làm sao. Tui mắc cười quá nói giọng ảnh lơ lớ vậy ai nghe mà hong biết ha anh hai. Ảnh cười khụt khịt, ngộ heng!

Có mấy anh Tây vô quán dõng dạc Banh-mi, Goi-kun, tui ngạc nhiên hỏi sao ảnh rành tiếng Việt vậy. Thế nào ảnh cũng biểu ảnh đến từ Úc, nơi mà hàng hà sa số quán Việt Nam làm công việc “truyền bá” văn hóa ẩm thực VN tốt đến nỗi dân Tây rành rọt vậy. Nói sao từ điển Oxford phải thêm từ Banh-mi nguyên chữ vào tài nguyên của nó! Cách tui giữ lại cái tên của các em nó (Banh-mi, Goi-cuon, Cha-gio…)  trong Thực đơn bằng Tiếng Việt, cũng là cách mà tui cảm ơn ông bà mình. Và cũng phải cảm ơn người hiện tại, anh Luke Nguyen, nhiều, vì nhờ show của ảnh truyền cảm hứng cho tui làm, và một phần quảng bá rất đẹp cho văn hóa, ẩm thực Việt!

Và vui nữa là nhờ quán, tui gặp thêm được nhiều người Việt Nam mới toanh. Họ sống ẩn đâu đó trong thành phố này, 30 năm, 10 năm, hay 2 tháng, họ đến quán với nụ cười kêu 2 chữ “Chị ơi / Con ơi cho em / cô ổ bánh mì”. Cũng có khi là anh mắt xanh tóc vàng đếm tiếng Việt rào rào, anh con-lai Việt-NZ phân bua “tui chi noi duoc tieng Viet chut xiu…”… Lúc đó tim tui giựt bắn, sự thân thương trong ngôn ngữ mẹ đẻ không gì thay thế được, và tui biết mình đã được nhiều hơn mất, khi thực hiện project dễ thương này!

Bạn nói bán sướng quá ha, thấy khách vô khách ra hoài. Tui cười nhỏn nhoẻn. Bạn chịu làm việc liên tục trung bình 14 tiếng một ngày kể cả day off không? Bạn chịu hy sinh nhan sắc hong (một tháng đủ làm tui hát bài ca Da nâu đầy tự tin). Bạn có dám bỏ những thói quen, giải trí riêng để làm việc không? Và bạn có chịu nổi lời ong tiếng ve từ những người không ưa thích mình hay không?… Mỗi ngày tui học được một bài học mới, gặp những người mới, và biết được những câu chuyện mới. Tui chỉ mong mình cứng cỏi hơn, cả về sức và tâm. Tui cũng mong người rộng lượng bao dung hơn, cho những nỗ lực này!

Còn quá nhiều thứ để kể sau một tháng mở cửa. Tui muốn ghi lại đây phần vì muốn giữ lại để chúc mừng “đầy tháng” quán tui, phần vì muốn trả lời với bạn rằng, “bán – bánh – mì” và “Master” thực có chút liên quan, nhưng ko phải kiểu mà bạn nói. Người được may mắn có kiến thức hơn sẽ làm cùng một việc nhưng bằng cách khoa học và chỉn chu hơn.

Mỗi con người có những câu chuyện và con đường khác nhau. Cái khó nhất là đọc được rõ ràng bản thân mình thực sự muốn gì, có đủ can đảm để đi tới cùng hay không, có đủ mở lòng để học hỏi những bài học mới hay không, có đủ ý chí để bước ra khỏi vòng an toàn của mình hay không… Câu chuyện về quán nhỏ của mình dù đang được viết khá ổn nhưng cũng chỉ là mới bắt đầu. Tui luôn cần rất nhiều tình thương từ mọi người để nâng đỡ, động viên, và chiến đấu trên mặt trận này (tình thương cũng là cái tui sống vì, sống với, sống cho). Vì tình thực, kinh doanh tất nhiên phải kể đến lợi nhuận, nhưng tui làm thêm nữa vì muốn đem cái tình Việt và những câu chuyện đẹp đến đây, nơi mà quá nhiều người hiểu sai cho Việt Nam, cũng như chính cộng đồng người Việt đã làm người ta hiểu sai phần nào nữa.

Đi xa xứ sống xa nhà mới biết, mình thương yêu gốc rễ của mình biết bao,  và một trong những điều thương nhớ nhất là những món ăn nuôi lớn mình, cái mùi cái vị nằm gọn gàng trong ký ức, những thứ có thể kể được những câu chuyện của riêng nó, và kết nối mọi người, bất kể Tây Ta…

.

*thương yêu tặng Quán nhỏ Healthy Vietnamese Street food và cả đội chính thức một tháng chiến đấu*

.
Phien Nghien – Palmy – tháng hai 2014